This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Sáng ngủ dậy thấy mặt sưng phồng có thể là do 4 vấn đề sức khỏe sau đây

Khuôn mặt bị sưng phồng lên vào buổi sáng có thể là do những yếu tố từ bên trong lẫn bên ngoài. Trong đó, nguyên nhân phổ biến nhất là do cơ thể của bạn đang tích tụ nhiều chất lỏng trong các cơ và mô. Ngoài ra, nó cũng có thể là do một số vấn đề sức khỏe đang xảy ra trong cơ thể bạn. Cùng tìm hiểu kỹ hơn về các nguyên nhân gây ra hiện tượng sưng phồng mặt khi ngủ dậy vào buổi sáng nhé!

Uống nhiều đồ có cồn

Rượu, bia đều là những đồ uống chứa cồn không hề tốt cho sức khỏe, nhất là khi bạn tiêu thụ bừa bãi. Việc uống nhiều rượu vào đêm hôm trước sẽ gây tích nước trong cơ thể và khiến bạn ngủ dậy với một khuôn mặt sưng phù. Bên cạnh đó, nó còn có thể gây tăng cân, béo phì và khiến sức khỏe của bạn dần suy yếu.

Ăn uống không đủ chất

Nếu cơ thể không được cung cấp đủ lượng nước cần thiết hay thiếu đi các dưỡng chất quan trọng trong mỗi bữa ăn thì nó cũng có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng sưng phù mặt vào sáng sớm. Bên cạnh đó, việc ăn quá nhiều muối trong bữa tối hôm trước cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng sưng phồng mặt.

Sáng ngủ dậy thấy mặt sưng phồng có thể là do 4 vấn đề sức khỏe sau đây - Ảnh 1.

Thay đổi nội tiết tố

Những người đang trong thời kỳ mang thai hay đang có kinh nguyệt cũng có thể gặp phải tình trạng sưng phù mặt vào sáng sớm. Do lúc này, cơ thể tích tụ chất lỏng nhiều hơn nên dễ bị sưng phù vào buổi sáng.

Nhiễm trùng mắt

Viêm kết mạc, sưng các tuyến bã trên mí mắt, viêm xoang, sốt cao... đều có thể là những căn bệnh nhiễm trùng mắt gây ra tình trạng sưng mặt vào sáng sớm. Do đó, bạn nên chủ động điều trị các bệnh về mắt từ sớm để ngăn ngừa tình trạng thức dậy với một khuôn mặt sưng húp.

Sáng ngủ dậy thấy mặt sưng phồng có thể là do 4 vấn đề sức khỏe sau đây - Ảnh 2.

*Cách giảm bớt tình trạng sưng phù mặt vào buổi sáng:

- Ăn uống lành mạnh: Uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây. Giảm bớt lượng muối trong chế độ ăn hàng ngày và tăng cường tiêu thụ rau xanh cũng như các loại hạt để thải bỏ độc tố ra khỏi cơ thể.

- Ngủ đủ giấc: Đây là điều cần thiết giúp bạn được tái tạo năng lượng sau một ngày dài làm việc vất vả. Đồng thời còn giúp quá trình lưu thông máu hoạt động tốt hơn.

Sáng ngủ dậy thấy mặt sưng phồng có thể là do 4 vấn đề sức khỏe sau đây - Ảnh 3.

- Chườm đá trên mặt: Cách làm này vừa giúp tan bớt những phần sưng to trên khuôn mặt, vừa giúp bạn tỉnh táo, sảng khoái để bắt đầu một ngày mới.

- Hạn chế sử dụng các sản phẩm trang điểm không phù hợp với làn da, chú ý tới hạn sử dụng của các loại mỹ phẩm. Luôn tẩy trang sạch sẽ trước khi đi ngủ để giúp da mặt được làm sạch sau một ngày rong ruổi ngoài đường.

- Tập thể dục nhiều hơn: Cách này sẽ giúp giải phóng các hormone tốt và tăng cường lưu thông máu trong cơ thể.

Sáng ngủ dậy thấy mặt sưng phồng có thể là do 4 vấn đề sức khỏe sau đây - Ảnh 4.

Trong trường hợp thấy mặt sưng kèm theo tình trạng đau đớn, đỏ mắt, nhiễm trùng, khó thở... thì nên chủ động đi khám bác sĩ chuyên khoa để tìm ra được cách giải quyết chính xác nhất.

cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương

Kristina Karyagina, sống tại Nga, hiện nay mới 26 tuổi nhưng cô chỉ có số cân nặng vỏn vẹn là 17kg. Nguyên nhân khiến cô bị thiếu cân nặng nghiêm trọng như vậy là do mắc phải căn bệnh chán ăn tâm thần. Các bác sĩ thông báo cô có thể chết trong vòng 1 năm nếu không được điều trị kịp thời.

Thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt trong nhiều năm, cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương - Ảnh 1.

Kristina Karyagina, sống tại Nga, đã được cảnh báo sẽ chết sau 1 năm nữa nếu không được chữa trị kịp thời

Karyagina đã không ăn uống đủ tiêu chuẩn từ khi còn học trung học và từ đó đến giờ cô trở nên gầy gò đến mức chỉ có cân nặng bằng một đứa trẻ 5-6 tuổi.

Được biết, Karyagina đã dành nhiều năm thực hiện một chế độ ăn kiêng với thành phần chủ yếu là những miếng táo và chuối nhỏ. Hiện tại cô ấy còn nhẹ cân hơn cả trường hợp những người chết vì chán ăn - một căn bệnh khiến bệnh nhân chỉ nặng khoảng từ 18 - 25kg và sau đó chết bởi những tổn thương nội tạng nghiêm trọng.

Karyagina hiện đã tốt nghiệp cử nhân ngành luật với bằng tốt nghiệp loại giỏi. Do sức khỏe yếu, không thể đi lại được, cơ thể hầu như chỉ còn da và xương nên mẹ cô đã phải giúp cô trong các hoạt động thường ngày.

Thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt trong nhiều năm, cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương - Ảnh 2.

Cơ thể chỉ còn da và xương của Kristina Karyagina

Thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt trong nhiều năm, cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương - Ảnh 3.

Vào ngày điều trị thứ hai, Karyagina đã cố gắng ăn một thứ gì đó khác ngoài táo hay chuối lần đầu tiên trong năm nay

Thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt trong nhiều năm, cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương - Ảnh 4.

Cơ thể của Karyagina trong ngày điều trị thứ 2

Một ngôi sao truyền hình thực tế ở quê nhà của cô và cũng là một dược sĩ, Maria Kokhno, hiện đã bắt đầu một chiến dịch để điều trị cho Karyagina trước khi quá muộn.

Kokhno đã kêu gọi 520.000 người theo dõi trên Instagram của mình để khởi động một chiến dịch thay mặt Karyagina. Cô ấy nói: `Tôi biết cảm giác đó là như thế nào khi ai đó đặt một bữa ăn trước mặt bạn và bạn không thể ăn nó. Ngay cả khi bạn biết rằng bạn sắp chết bạn cũng không thể ăn được."

Thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt trong nhiều năm, cô gái 26 tuổi chỉ nặng vỏn vẹn có 17kg, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương - Ảnh 5.

Thậm chí, bác sĩ còn hỏi cô đã bao giờ nghĩ đến việc đóng phim kinh dị chưa

Bác sĩ Goland, người điều trị trực tiếp cho Karyagina thậm chí đã hỏi bệnh nhân của mình rằng đã bao giờ nghĩ đến việc đóng một vai trong một bộ phim kinh dị nào đó chưa, như là một xác sống chẳng hạn.

Bác sĩ cho rằng nếu Karyagina có thể thay đổi thái độ của mình với căn bệnh rối loạn này, cô ấy sẽ hồi phục nhanh chóng.

May mắn rằng, cô Karyagina hiện đã có những dấu hiệu vô cùng lạc quan. Mẹ cô, bà Marina chia sẻ: "Vài ngày trước tôi thấy con gái tôi ăn kasha (là một loại cháo làm từ lúa mạch hoặc ngũ cốc) và tôi đã không thể tin vào mắt mình!"

Chán ăn tâm thần là gì?

Chán ăn là một loại bệnh tâm thần nghiêm trọng, biểu hiện khi một người hạn chế ăn uống gây ra rối loạn đặc trưng bởi cân nặng bất thường của người bệnh. Họ sợ hãi việc tăng cân và có nhận thức sai lệch về cân nặng của cơ thể.

Bệnh nhân thường có những cái nhìn méo mó về bản thân và họ nghĩ rằng họ béo hơn thực tế rất nhiều.

Nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể bị mất sức mạnh cơ bắp và xương, cũng như kéo theo các bệnh khác như trầm cảm, ham muốn tình dục giảm và kinh nguyệt không đều chậm chí là ngừng hẳn ở phụ nữ. Ngoài ra, người bệnh có thể bị mất ngủ, táo bón, đầy hơi, cảm giác lạnh, rụng tóc và sưng tay, mặt và bàn chân.

Trong trường hợp nặng, bệnh nhân có thể gặp vấn đề về tim và tổn thương các cơ quan trong cơ thể.

Các dấu hiệu của hành vi chán ăn bao gồm bỏ bữa, đưa lí do để không phải ăn uống, luôn theo dõi cân nặng của bản thân, chỉ ăn một ít thức ăn và chỉ ăn những loại ít béo và ít năng lượng...

Khi mắc chứng bệnh chán ăn, có nhiều phương pháp để điều trị nhưng thường được thực hiện bởi một đội ngũ các chuyên gia y bác sĩ, chuyên gia tâm lý và chuyên gia dinh dưỡng. Đồng thời cũng cần sự động viên và khích lệ của người thân xung quanh.

(Theo Dailymail)

Những dấu hiệu mắc bệnh lây qua đường tình dục dễ bị bỏ qua

Thông thường thì các tác nhân này lây truyền qua hoạt động tình dục (giao hợp qua đường âm đạo, đường miệng hoặc đường hậu môn) không được bảo vệ với người đang mang bệnh.

Ngoài ra còn lây qua mẹ truyền cho con khi có thai, khi cho con bú và các dụng cụ tiêm, chích vào da. Tất cả mọi người có quan hệ tình dục đều có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Không phải tất cả các bệnh đều có triệu chứng rõ ràng.

Một số bệnh có triệu chứng gần giống nhau, người bệnh không thể tự phân biệt được mà cần được khám và xét nghiệm tại các cơ sở y tế chuyên khoa.

Nếu bạn đã quan hệ tình dục với một người mà bạn không biết chắc là không có bệnh, hoặc sau khi có quan hệ tình dục không an toàn mà cơ quan sinh dục của bạn có những biểu hiện bất thường, bạn nên nghi ngờ tới khả năng là mình mắc bệnh.

Những dấu hiệu mắc bệnh lây qua đường tình dục dễ bị bỏ qua - Ảnh 1.

Cần lưu ý tới các dấu hiệu sau đây:

Đau khi đi tiểu

Đau hoặc cảm giác bỏng rát khi đi tiểu, tiểu gấp hoặc đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, tiểu ra máu đều có thể là dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu.

Phụ nữ thường nhầm lẫn triệu chứng này với dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu.

Khí hư bất thường

Khí hư có thể thay đổi theo chu kì kinh nguyệt nhưng khí hư bất thường có thể cảnh báo bệnh tình dục. Khí hư có màu vàng hoặc xanh có thể do lậu hoặc nhiễm trichomonas.

Chảy máu bất thường

Bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể gây ra chảy máu âm đạo giữa hai kỳ kinh nguyệt, chảy máu khi tham gia các hoạt động tình dục... Chảy máu nhiều và kéo dài cũng là một trong những dấu hiệu nguy hiểm bạn không nên bỏ qua.

Ngứa âm đạo

Nguyên nhân gây ngứa âm đạo bao gồm dị ứng với bao cao su, nhiễm nấm, mụn cóc sinh dục; nó thường là dấu hiệu sớm của các bệnh lây truyền qua đường tình dục do virus và vi khuẩn thường gặp nhất.

Các tổn thương ở da xung quanh khu vực âm đạo như ngứa, lở loét hoặc sần sùi có thể là do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, đa số những người mắc phải các triệu chứng này thường là do herpes sinh dục, bệnh giang mai hoặc các bệnh tình dục khác gây ra.

Phát ban

Phát ban, nổi mụn và tổn thương vùng kín là một trong những triệu chứng ban đầu của bệnh lây truyền qua đường tình dục do herpes, HPV hoặc giang mai, dù các tổn thương này có thể tạm thời biến mất trong vài ngày.

Tuy nhiên, đây là loại bệnh không thể chẩn đoán bằng những cách thông thường. Do đó, nếu nhận thấy kích ứng da hoặc nổi mụn ở vùng kín bạn cần phải xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Đau vùng xương chậu

Đau bụng hoặc đau vùng chậu có thể là một dấu hiệu của bệnh viêm vùng chậu, mà nguyên nhân thường gặp nhất của nó là do nhiễm chlamydia hoặc lậu. Nếu bạn bị đau vùng chậu, đặc biệt là kết hợp với các triệu chứng khác như nổi mụn âm đạo, đi tiểu đau... nên đến cơ sở y tế để chẩn đoán kịp thời.

Suy giảm hệ miễn dịch

Các virus gây bệnh lây nhiễm qua đường tình dục làm suy giảm hệ miễn dịch của con người. Herpes và các bệnh nhiễm trùng viêm gan B có thể gây ra các triệu chứng giống như cúm, bao gồm sốt, đau đầu, đau cơ và mệt mỏi; buồn nôn, tiêu chảy.

Đau cột sống thắt lưng: Khi nào là nguy hiểm?

Đau cột sống thắt lưng (CSTL) hay còn gọi là đau lưng vùng thấp (Low back pain) là hội chứng do đau khu trú trong khoảng từ ngang mức L1 đến nếp lằn mông (có thể ở một bên hoặc cả hai bên), đây là một hội chứng xương khớp hay gặp nhất trong thực hành lâm sàng. Khoảng 65-80% những người trưởng thành trong cộng đồng có đau CSTL cấp tính hoặc từng đợt một vài lần trong cuộc đời và khoảng 10% số này bị chuyển thành đau CSTL mạn tính. Bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng làm giảm chất lượng cuộc sống khiến bệnh nhân luôn trong tình trạng đau đớn, mệt mỏi.

Vì sao bị đau thắt lưng?

Nguyên nhân phổ biến do căng giãn cơ, dây chằng cạnh cột sống quá mức; thoái hóa đĩa đệm cột sống; thoát vị đĩa đệm CSTL; trượt thân đốt sống, dị dạng thân đốt sống (cùng hóa thắt lưng 5, thắt lưng hóa cùng 1...), loãng xương nguyên phát... Loại này diễn biến lành tính, chiếm 90% số trường hợp đau CSTL.

Đau CSTL là triệu chứng của một trong các bệnh khớp mạn tính (viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, loãng xương); hoặc tổn thương tại cột sống do nguyên nhân nhiễm khuẩn (viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn lao hoặc vi khuẩn sinh mủ); do ung thư; do các nguyên nhân khác (sỏi thận, loét hành tá tràng, bệnh lý động mạch chủ bụng, u xơ tuyến tiền liệt...), tổn thương cột sống do chấn thương...Làm việc đúng tư thế, đặc biệt khi bê vật nặng giúp phòng ngừa đau thắt lưng.

Làm việc đúng tư thế, đặc biệt khi bê vật nặng giúp phòng ngừa đau thắt lưng.

Nhận biết các thể đau

Đau CSTL do căng giãn dây chằng quá mức: Đau xuất hiện đột ngột sau bê vật nặng, sau hoạt động sai tư thế (lao động chân tay kéo dài, đi guốc cao gót...), rung xóc do đi xe đường dài, sau nhiễm lạnh hoặc sau một cử động đột ngột. Đau thường kèm theo co cứng khối cơ cạnh cột sống, tư thế cột sống bị lệch vẹo mất đường cong sinh lý, khi thầy thuốc ấn ngón tay dọc các mỏm gai sau hoặc vào khe liên đốt ở hai bên cột sống có thể xác định được điểm đau.

Do thoát vị đĩa đệm CSTL: Thường có biểu hiện của đau thần kinh tọa. Người bệnh đau lan từ cột sống thắt lưng lan xuống mông, phía sau ngoài đùi, mặt trước bên cẳng chân, mắt cá ngoài, qua mu chân tới ngón I nếu bị chèn ép ở L5. Nếu tổn thương ở S1, đau lan xuống mặt sau đùi, cẳng chân, gân Achille, mắt cá ngoài qua bờ ngoài gan chân tới ngón V. Đôi khi có rối loạn cảm giác nông: cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm... dấu hiệu giật dây chuông dương tính, dấu hiệu Lasegue dương tính. Trường hợp có chèn ép nặng, người bệnh có thể có rối loạn cơ tròn. Phản xạ gân xương chi dưới thường giảm hoặc mất, có thể có teo cơ đùi và cẳng chân nếu đau kéo dài.

Trong trường hợp đau CSTL là triệu chứng của một bệnh toàn thân, người bệnh thường có các triệu chứng khác kèm theo như: sốt, dấu hiệu nhiễm trùng thường gặp do nguyên nhân nhiễm khuẩn; gầy, sút cân nhanh, đau ngày càng tăng, không đáp ứng với các thuốc chống viêm giảm đau thông thường là các triệu chứng gợi ý nguyên nhân là ung thư; trường hợp đau thắt lưng dữ dội ngày càng tăng kèm theo dấu hiệu sốc (shock), da xanh thiếu máu nên nghi ngờ phình tách động mạch chủ bụng... Khi có dấu hiệu chỉ điểm của một bệnh toàn thân liên quan đến đau vùng thắt lưng, thầy thuốc cần hướng dẫn người bệnh đến các cơ sở chuyên khoa thực hiện các xét nghiệm, thăm dò chuyên sâu để tìm nguyên nhân.

Một số các trường hợp có nguyên nhân do tâm lý: Dấu hiệu đau thắt lưng xuất hiện sau các stress do áp lực của tâm lý hoặc lao động thể lực quá sức, sau đó chuyển thành đau thắt lưng mạn tính dai dẳng. Tuy nhiên, thầy thuốc cần loại trừ các bệnh thực thể gây đau thắt lưng trước khi chẩn đoán đau do nguyên nhân tâm lý.

Chẩn đoán xác định và chẩn đoán nguyên nhân

Chẩn đoán xác định dựa vào triệu chứng lâm sàng. Các kết quả xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh “Đau CSTL”: không phải là chẩn đoán, mà chính là phải chẩn đoán nguyên nhân đau CSTL, và điều này không phải luôn dễ dàng. Bằng chứng để chẩn đoán xác định “Đau CSTL do nguyên nhân cơ học” như sau: Đau tại vùng CSTL, kiểu cơ học (nghỉ ngơi có đỡ). Gần đây tình trạng toàn thân không bị thay đổi, không sốt, không có các rối loạn chức năng thuộc bất cứ cơ quan nào (dạ dày, ruột, sản phụ, phế quản - phổi...) mới xuất hiện; không có các biểu hiện đau các vùng cột sống khác: lưng, cổ, sườn, khớp khác... Các xét nghiệm dấu hiệu viêm và bilan phospho-calci âm tính; Xquang cột sống thắt lưng bình thường hoặc có các triệu chứng của thoái hóa.

Trường hợp có một hoặc càng nhiều các triệu chứng nêu trên bất thường, càng nghi ngờ đau CSTL “triệu chứng” và cần phải tìm nguyên nhân. Tùy theo gợi ý nguyên nhân nào mà chỉ định các xét nghiệm tương ứng.Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng - một nguyên nhân gây đau lưng.

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng - một nguyên nhân gây đau lưng.

Điều trị thế nào?

Điều trị theo nguyên nhân. Nên điều trị đau CSTL kết hợp điều trị thuốc với các biện pháp phục hồi chức năng, luyện tập, thay đổi lối sống nhằm bảo vệ cột sống thắt lưng. Không lạm dụng điều trị ngoại khoa, đặc biệt đối với những trường hợp đau CSTL cấp hoặc bán cấp.

Thường kết hợp các nhóm thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau, thuốc giãn cơ. Nằm nghỉ tại chỗ trên giường phẳng, đeo đai hỗ trợ vùng thắt lưng khi ngồi dậy hoặc đi lại vận động, chiếu đèn hồng ngoại hoặc điều trị điện xung, châm cứu kết hợp dùng thuốc. Khi đỡ đau lưng có thể tăng dần mức độ hoạt động.

Chỉ định phẫu thuật cho các trường hợp đau thắt lưng do thoát vị đĩa đệm hoặc kèm trượt đốt sống đã được điều trị nội khoa tích cực trong 3 tháng nhưng không đạt hiệu quả, đặc biệt đối với trường hợp đau nhiều, có dấu hiệu ép rễ nặng (teo cơ nhanh, rối loạn cơ tròn, rối loạn cảm giác).

Để phòng bệnh, bác sĩ cần tư vấn cho bệnh nhân hiểu rõ về bệnh và thực hiện các biện pháp tránh tái phát đau vùng thắt lưng: làm việc đúng tư thế đặc biệt tư thế đúng khi mang vật nặng, tránh xoắn vặn vùng thắt lưng, nên bơi hàng tuần, tập luyện các động tác làm chắc khỏe cơ bụng, cơ lưng...

BS. Hoàng Lan

Sử dụng sữa ít béo hàng ngày cũng tăng nguy cơ Parkinson

Sử dụng sữa ít béo hàng ngày cũng tăng nguy cơ Parkinson

Các kết quả được đăng tải trên tạp chí Neurology cho thấy những người tiêu thụ tối thiểu ba khẩu phần sữa ít chất béo hàng ngày có nguy cơ mắc bệnh Parkinson cao hơn 34% so với những người tiêu thụ một khẩu phần sữa ít chất béo hàng ngày.

Ăn các món kem trái cây hoặc kem sữa chua cũng có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Katherine C. Hughes từ trường đại học Y tế công cộng Harvard ở Boston cho biết: “Các kết quả đã đưa ra bằng chứng về việc gia tăng ở mức vừa phải nguy cơ phát triển bệnh Parkinson do sử dụng quá nhiều các sản phẩm từ sữa ít chất béo”. “Các sản phẩm từ sữa ít chất béo được sử dụng rộng rãi trở thành yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đối với bệnh Parkinson”.

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã phân tích dữ liệu trong khoảng 25 năm của 80.736 phụ nữ và 48.610 đàn ông. Những người tham gia các nghiên cứu này đã hoàn thành bộ câu hỏi điều tra sức khỏe định kỳ 2 năm/lần và bộ câu hỏi điều tra chế độ dinh dưỡng 4 năm/lần.

Trong khoảng thời gian này, 1.036 bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Trong một phân tích gộp từ nhiều nghiên cứu, các nhà nghiên cứu nhận thấy việc tiêu thụ các sản phẩm sữa toàn phần có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học cần có thêm nhiều nghiên cứu trước khi đưa ra khuyến cáo về việc tiêu thụ các sản phẩm từ sữa.

BS. Tuyết Mai

(theo Univadis/ The Health Site)

Ðau dai dẳng tăng nguy cơ sa sút trí nhớ

Các nhà nghiên cứu tại Đại học California San Francisco (UCSF) cho biết: Tình trạng đau liên tục có thể làm tăng nguy cơ suy giảm tâm thần và sa sút trí tuệ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, đau mạn tính liên quan với những thay đổi trong não góp phần gây ra vấn đề về trí nhớ. Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng, nghiên cứu này không được thiết kế để chứng minh mối quan hệ nhân quả mà chỉ có thể cho thấy mối liên quan giữa đau và vấn đề về trí nhớ.

Ðau dai dẳng tăng nguy cơ sa sút trí nhớ

Nhóm nghiên cứu đã xem xét thông tin của hơn 10.000 người tham gia tuổi từ 60 trở lên và thấy rằng, những người bị đau mạn tính từ mức trung bình đến nặng có mức suy giảm trí nhớ nhanh hơn 9% trong vòng 10 năm tiếp theo so với những người không bị đau mạn tính.

Nhóm nghiên cứu cho biết, mức suy giảm này đủ để ảnh hưởng tới hoạt động hàng ngày ví dụ như khả năng quản lý tài chính hoặc theo dõi việc dùng thuốc. Những người bị đau mạn tính cũng tăng đáng kể nguy cơ bị sa sút trí tuệ.

TS. Elizabeth Whitlock cho biết: “Người già cần duy trì khả năng nhận thức để sống độc lập. Có tới 1/3 người lớn tuổi bị đau mạn tính, vì vậy, hiểu được mối liên quan giữa đau và suy giảm nhận thức là bước đầu tiên quan trọng để tìm cách hỗ trợ nhóm dân cư này”.

ThS. Thanh Mai

((Theo healthday, 6/2017))

Cách khắc phục loạn khuẩn đường ruột do kháng sinh

Con tôi lên 3 tuổi, thỉnh thoảng cháu lại bị viêm đường hô hấp nên đã phải dùng rất nhiều loại kháng sinh. Sau mỗi lần dùng kháng sinh, cháu thường bị đi ngoài phân lỏng, phân sống. Trường hợp như con tôi có phải do tác dụng phụ của kháng sinh gây ra? Sử dụng thuốc nào để khắc phục tình trạng này?

Lê Thị Ngà (Bắc Ninh)

Theo thư chị mô tả thì có thể cháu bị loạn khuẩn đường ruột dẫn đến tiêu chảy khi dùng kháng sinh. Đây là tác dụng phụ thường gặp khi dùng kháng sinh. Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng, nhằm tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại. Khi sử dụng kháng sinh, thuốc có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, tiêu diệt cả vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại, phá vỡ thế cân bằng trong đường ruột, gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Cách khắc phục loạn khuẩn đường ruột do kháng sinh

Có nhiều loại kháng sinh gây ra tác dụng phụ này. Tình trạng tiêu chảy nặng hay nhẹ, ngắn ngày hay kéo dài còn tùy thuộc vào loại kháng sinh, thời gian dùng và khả năng nhạy cảm của cơ thể với loại kháng sinh đó. Tình trạng loạn khuẩn do kháng sinh có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào. Đối với trẻ em, đáng ngại hơn cả là nếu chứng loạn khuẩn không được điều trị sớm, có thể dẫn đến hiện tượng mất nước, rối loạn điện giải, suy dinh dưỡng dẫn đến suy kiệt...

Khi bị loạn khuẩn đường ruột, bé có triệu chứng đi ngoài phân lỏng, phân sống, đôi khi có lẫn chất nhày hoặc ít máu, có cảm giác trướng bụng, sốt nhẹ. Hết đợt điều trị kháng sinh, tình trạng loạn khuẩn sẽ được cải thiện sau vài ngày. khi các vi khuẩn đường ruột cân bằng trở lại, tình trạng tiêu chảy của trẻ sẽ hết. Ngoại trừ các trường hợp nặng, thành tiêu chảy mạn tính, khi đó sẽ phải điều trị dài ngày.

Để hạn chế tình trạng tiêu chảy do dùng kháng sinh, khi đi khám, chị cần thông báo cho bác sĩ biết về loại kháng sinh trẻ đang dùng để được tư vấn về cách sử dụng. Cho dù bị tiêu chảy do kháng sinh thì cũng phải cho bé uống hết liều điều trị, không bỏ thuốc giữa chừng sẽ gây tình trạng kháng thuốc và những lần điều trị sau sẽ càng khó khăn hơn. Sau mỗi đợt kháng sinh nên cho trẻ ăn sữa chua và dùng bổ sung men vi sinh để cung cấp vi khuẩn có lợi cho đường ruột. Tùy trường hợp có thể cho bé dùng thuốc chống tiêu chảy để giảm số lần đi ngoài, tránh tình trạng mất nước và chất điện giải. Khi đường ruột của bé đang loạn khuẩn thì không nên cho bé dùng thêm loại thuốc dùng cho đường ruột nào nữa, tình trạng loạn khuẩn sẽ càng nặng hơn. Sau khi bổ sung men vi sinh, hệ vi khuẩn đường ruột của bé cân bằng lại, tình trạng tiêu chảy sẽ hết.

DS. Yến Trang